w w w.h u m i x v n. c o m  - Nhịp cầu giữa nhà nông và các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp - w w w.h u m i x v n. c o m
English  
 

Kiến thức phân bón


Phân bón Vi sinh vật trong nông nghiệp

 

 

TS. Phạm Văn Toản
Viện Khoa học Kỹ thuật NN Việt Nam

 

I. PHÂN BÓN VI SINH VẬT:
Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật (VSV) sống trong đất, nước và vùng rễ cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón. Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của VSV (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, giải phóng chất dinh dưỡng vô cơ từ hợp chất khó tan hoặc tổng hợp chất dinh dưỡng từ môi trường.v.v.). Vì vậy từ lâu vi sinh vật đã được coi là một bộ phận của hệ thống dinh dưỡng cây trồng tổng hợp.

 
Phân bón vi sinh vật (phân vi sinh) là sản phẩm chứa VSV sống, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trổng có thể sử dụng được (N, P, K, S, Fe...) hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân VSV phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản (TCVN 6168-2002). Tuỳ theo công nghệ sản xuất người ta có thể chia phân vi sinh thành hai loại:


Phân vi sinh trên nền chất mang khử trùng (chế phẩm VSV) là sản phẩm được tạo thành từ sinh khối VSV tuyển chọn và cơ chất (chất mang) đã tiệt trùng, có mật độ vi sinh hữu ích > 109 VSV/g(ml) và mật độ VSV tạp nhiễm thấp hơn 1/1000 so với VSV hữu ích. Phân bón dạng này được sử dụng dưới dạng nhiễm hạt, hồ rễ hoặc tưới phủ với liều lượng 1-1,5 kg (lit)/ha canh tác.
Phân vi sinh trên nền chất mang không khử trùng được sản xuất bằng cách tẩm nhiễm trực tiếp sinh khối VSV hữu ích vào cơ chất không cần thông qua công đoạn khử trùng. Phân bón dạng này có mật độ VSV hữu ích >106 VSV/g(ml) và được sử dụng với số lượng từ vài trăm đến hàng ngàn kg (lít)/ha.
Trên cơ sở tính năng tác dụng của các chủng loại VSV sử dụng, phân bón VSV còn được gọi dưới các tên:


Phân VSV cố định nitơ (phân đạm vi sinh) chứa các VSV sống cộng sinh với cây bộ đậu, hội sinh trong vùng rễ cây trồng cạn hay tự do trong đất, nước có khả năng sử dụng N từ không khí tổng hợp thành đạm cung cấp cho đất và cây trồng.


Phân VSV phân giải hợp chất photpho khó tan (phân lân vi sinh) sản xuất từ các VSV có khả năng chuyển hoá các hợp chất photpho khó tan thành dễ tiêu cho cây trồng sử dụng.


Phân VSV kích thích, điều hoà sinh trưởng thực vật chứa các VSV có khả năng sản sinh các hoạt chất sinh học có tác dụng điều hoà, kích thích quá trình trao đổi chất của cây.


Phân VSV chức năng là sản phẩm có chứa không chỉ các VSV làm phân bón như cố định nitơ, phân giải lân, kích thích sinh trưởng thực vật mà còn có các loại VSV có khả năng ức chế, tiêu diệt VSV gây bệnh cây trồng.
Ngoài phân vi khuẩn nốt sần đã trở thành hàng hoá và được sử dụng tại nhiều quốc gia, các loại phân vi sinh vật khác như cố định nitơ tự do từ Azotobacter, Clostridium, tảo lam, cố định nitơ hội sinh từ Azospirillum, phân giải photphat khó tan từ Bacillus, Pseudomonas..., tăng sức đề kháng cho cây trồng, phòng trừ vi sinh vật gây bệnh vùng rễ từ Steptomyces, Bacillus... cũng đã được nghiên cứu, sản xuất và sử dụng trên diện rộng.
Nhận thức được vai trò của phân bón vi sinh vật từ những năm đầu của thập kỷ 80 nhà nước ta đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986-1990 và chương trình công nghệ sinh học giai đoạn 1991-1995, 1996-2000, 2001-2005 và phát triển vào sản xuất nhiều sản phẩm phân bón VSV.


Từ các mẫu đất, nước, rễ cây các chủng giống VSV được phân lập, tuyển chọn, đánh giá và lưu giữ bảo quản tại các phòng thí nghiệm dưới dạng bộ sưu tập quỹ gen. Các VSV sử dụng trong nghiên cứu và sản xuất phân bón bao gồm các sinh vật cố định nitơ sống cộng sinh với cây bộ đậu (Rhizobium, Bzadyrhizobium), sống tự do trong đất, nước (Azotobacter, Clostridium, Arthrobacter, Klebsiella, Serratia, Pseudomonas, Bacillus, vi khuẩn lam... hay sống hội sinh trong vùng rễ cây trồng (Azospirillum), VSV phân giải lân (Bacillus, Pseudomonas, Penicillium, Aspergillus, Fussarium, Candida), VSV phân giải xelluloza (Trichoderma, Chetomium, Aspergillus, Gliogladium...), VSV sinh tổng hợp hoạt chất kích thích sinh trưởng thực vật (Agrobacterium, Flavobacterium, Bacillus, Enterobacter, Azotobacter, Gibberella...) và các VSV đối kháng VSV gây bệnh vùng rễ cây trồng.


Phân bón vi sinh vật được sản xuất bằng cách nhân sinh khối VSV trong môi trường và điều kiện thích hợp để đạt được một mật độ nhất định sau đó xử lý bảo quản và đưa đi sử dụng trực tiếp hoặc phối trộn với cơ chất hữu cơ tạo sản phẩm phân hữu cơ vi sinh vật. Trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình công nghệ sinh học giai đoạn 1991-2000 Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã phối kết hợp cùng gần 20 cơ quan nghiên cứu, giảng dạy và công ty chuyên ngành đã xây dựng và triển khai thành công các qui trình sản xuất phân vi sinh vật cố định nitơ, phân vi sinh vật phân giải lân, phân vi sinh vật hỗn hợp cố định nitơ và phân giải lân. Sản phẩm phân bón VSV được các hội đồng khoa học nghiệm thu, đánh giá và công nhận là tiến bộ kỹ thuật.



II. CÁC LOẠI PHÂN BÓN VSV VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG:
Phân vi khuẩn nốt sần, sản phẩm dùng cho cây bộ đậu (đậu nành, đậu phộng, đậu xanh, đậu đen.v.v.) được sử dụng tại nhiều vùng trong cả nước có tác dụng nâng cao năng suất lạc vỏ 13,8-17,5% ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung và 22% ở các tỉnh miền Nam.


Các kết quả khảo nghiệm đồng ruộng cũng cho thấy sử dụng phân vi khuẩn nốt sần kết hợp với lượng đạm khoáng tương đương 30-40 kgN/ha mang lại hiệu quả kinh tế cao, năng suất lạc đạt trong trường hợp này có thể tương đương như khi bón 60 và 90 kgN /ha Hiệu lực của phân vi khuẩn nốt sần thể hiện đặc biệt rõ nét trên vùng đất nghèo dinh dưỡng và vùng đất mới trồng lạc. Lợi nhuận do phân vi khuẩn nốt sần được các nhà khoa học xác định đạt từ vài trăm ngàn đến hàng triệu đồng/ha với tỷ lệ lãi suất/ 1 đồng chi phí đạt 9,8 lần.


Ngoài ra lượng đạm được hình thành thông qua quá trình cô định sinh học được tích luỹ trong thân xác, tàn dư thực vật có tác dụng làm nguồn dinh dưỡng dự trữ cho cây trồng vụ sau. Tác dụng tương tự cũng được ghi nhận đối với phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh và tự do. Tuy nhiên ở đây cũng cần lưu ý phân vi sinh vật chỉ phát huy hiệu lực tốt đối với cây trồng trên một nền dinh dưỡng cân đối.


Điều đó cho thấy điều kiện môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đến quá trình sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh tổng hợp các hoạt chất sinh học của VSV. Nếu điều kiện không thuận lợi hiệu lực của phân VSV bị hạn chế, và trong một số trường hợp nhất định hiệu lực sẽ bị mất. Kết quả khảo nghiệm hiệu quả của phân vi sinh vật cố định nitơ trên nền hữu cơ (phân hữu cơ vi sinh vật) cho thấy phân bón loại này không chỉ có ý nghĩa cung cấp chất dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả sử dụng phân đạm khoáng mà còn có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường đất trồng.


Khác với phân VSV cố định nitơ có thể lấy trực tiếp N khí trời làm nguồn cung cấp đạm, phân VSV phân giải lân chỉ phát huy tác dụng khi có nguồn photpho. Kết quả khảo nghiệm ghi nhận có thể thay thế 50% phân lân khoáng bằng quặng photphat và VSV phân giải lân mà không ảnh hưởng đáng kể đến năng suất cây trồng.


Ngoài tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng, góp phần tiết kiệm một phần đáng kể phân bón vô cơ, phân VSV, thông qua các hoạt chất sinh học của chúng còn có tác dụng điều hoà, kích thích quá trình sinh tổng hợp của cây trồng, đồng thời nâng cao sức đề kháng của cây trồng đối với một số sâu bệnh hại.


Phân bón VSV hỗn hợp, loại sản phẩm sản phẩm được tạo thành từ các VSV cố định nitơ và VSV phân giải lân. Kết quả khảo nghiệm cho thấy đây là sản phẩm có tác dụng tốt đến sinh trưởng phát triển của cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng. Phân hỗn hợp vi sinh HUMIX so với nền phân bón bình thường mang lại lợi nhuận gần 1.000.000đ/ha đối với lúa, 1.500.000 đ/ha đối với đậu tương và 400.000-600.000đ/ha đối với cây ăn trái. Sản phẩm vi sinh vật hỗn hợp cũng đã được sử dụng rộng rãi cho các đối tượng cây công nghiệp (tiêu, cà phê, bông, cao su, mía...) tại nhiều địa phương trong cả nước, được người sử dụng đánh giá cao.


Trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KC.04.04 giai đoạn 2001-2005 sản phẩm phân vi sinh vật đa chủng, chức năng được nghiên cứu, phát triển và đang khảo nghiệm trên diện rộng. Sản phẩm không chỉ là một loại phân bón VSV hỗn hợp mà còn có khả năng ức chế, hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật gây bệnh vùng rễ cây trồng cạn. Kết quả khảo nghiệm đồng ruộng trong các năm 2002, 2003 tại nhiều địa phương miền Bắc, miền Trung và miền Nam đã chỉ ra phân bón VSV chức năng có tác dụng gia tăng sinh khối và năng suất lạc, cà chua, khoai tây, tiêu, bông và cây trồng lâm nghiệp. Sự tăng năng suất được xác nhận ngay cả khi giảm 20% lượng dinh dưỡng khoáng (NPK). Kết quả cũng khảng định hỗn hợp VSV có tác dụng tích cực trong việc hạn chế bệnh vùng rễ ở các đối tượng cây trồng khảo nghiệm, đặc biệt là bệnh héo xanh vi khuẩn ở cây họ cà, bệnh lở cổ rễ và thối đen cổ rễ ở cây công nghiệp và lâm nghiệp.


Phân bón VSV đã được nghiên cứu sản xuất và sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Sản phẩm không chỉ cung cấp một phần đáng kể chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng mà còn có tác dụng nâng cao hiệu quả sử dụng phân khoáng đồng thời tăng cường sức chống chịu của cây trồng đối với sâu bệnh và điều kiện thời tiết không thuận lợi, đặc biệt phân VSV chức năng có tác dụng trực tiếp trong việc hạn chế bệnh vùng rễ cây trồng. Phân bón VSV mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng, đồng thời có tác dụng tích cực trong việc cải thiện môi trường và phát triển bền vững./.
 

In trang này
Trở về trang trước Trở lên đầu trang
 
  Bản quyền thuộc Công Ty TNHH Hữu Cơ
Design by 2000-2003  Webmaster