w w w.h u m i x v n. c o m  - Nhịp cầu giữa nhà nông và các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp - w w w.h u m i x v n. c o m
English  
 

Kỹ thuật canh tác


Xác Định Chế Độ Bón Phân
Cho Cây Cà Phê

 

 

Nhóm biên tập Website
Công ty TNHH Hữu Cơ.

 I.       NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY CÀ PHÊ:

Nhu cầu dinh dưỡng của cây cà phê là lượng chất dinh dưỡng cần thiết để nuôi thân, rễ, cành, lá, hoa và quả, đảm bảo sự sinh trưởng, phát triển tốt và cho năng suất cao. Nhu cầu này tùy thuộc vào sản lượng quả, hạt, tuổi cây, mức độ sinh trưởng, phát triển và tuỳ giống cà phê ..v.v.

Khi thu hoạch quả chín, ngoài nhân, phần thịt và vỏ quả đều không được trả lại cho đất, do vậy lượng dinh dưỡng lấy đi theo quả chín khi thu hoạch thường lớn hơn dinh dưỡng có trong hạt (nhân).  

Bảng: Lượng dinh dưỡng lấy đi theo quả cà phê khi thu hoạch
 (tính trong 1 tấn quả tươi)

Giống cà phê

Nước

Đa và trung lượng (kg)

N

P205

K20

Mg0

Ca0

S

Chè

Braxin

34,8

5,7

64,5

4,6

9,9

2,9

Chè

Kenya

31,4

5,5

47,4

4,5

5,0

-

Chè

Ấn Độ

34,0

5,0

48,0

-

-

-

Vối

Ấn Độ

35,0

7,0

39,0

-

-

-

Vối

Côte d’voire

33,4

6,2

43,8

4,1

5,5

-

Vối

Indonexia

35,0

6,0

50,0

4,0

4,0

-

Cà phê vối

Trung bình

34,5

6,4

44,3

4,1

4,8

-

Giống cà phê

Nước

Vi lượng (g)

Fe

Mn

Zn

Cu

B

Mo

Chè

Braxin

112

50

84

32

51

0,1

         Nguồn: International Fertilizer Industy Association, 1992.

Như vậy, với cà phê vối năng suất 3 tấn nhân/ha (ứng 13,5 tấn quả tươi) thì lượng dinh dưỡng lấy đi khỏi cây cà phê tương ứng trên 1 ha là: 466kg N + 86kg P205 + 590kg K20 + 55kg MgO + 65kg Ca0.

Với năng suất 5 tấn nhân/ha (22,5 tấn quả tươi) thì lượng dinh dưỡng tương ứng lấy đi trên 1 ha là: 776kg N + 144kg P205 + 997kg K20 + 92kg MgO + 108kg Ca0.

Lượng kali lấy đi là nhiều nhất rồi mới tới đạm và lân, như vậy quả cà phê cần nhiều kali nhất, sau đó là đạm, lân, canxi và magiê.

Cây cà phê cần dinh dưỡng không chỉ để nuôi quả mà còn để nuôi thân, rễ, cành, lá. Những lá, cành già, không cần thiết bị đốn tỉa, bị khô và rụng đi, phần lớn lượng lá và cành này không được trả lại cho đất mà tận dụng làm chất đốt và những phần mất đi này cũng là dinh dưỡng mất đi từ cây.

Bảng sau ghi nhận lượng dinh dưỡng mất đi theo các phần lá và cành trên 1 ha, đồng thời cũng cho thấy các cành và lá già bị đốn tỉa hoặc rụng đều chứa nhiều kali và đạm so với lân. 

Dinh dưỡng cây cà phê lấy đi theo các tàn dư cành, lá

Giống cà phê

Nước

Đa và trung lượng (kg)

N

P205

K20

Mg0

Ca0

S

Chè (1)

Braxin

105

14

119

13

84

2

Vối (2)

Côte d’voire

34,8

9,1

17,4

13,9

66,1

-

Giống cà phê

Nước

Vi lượng (g)

Fe

Mn

Zn

Cu

B

Mo

Chè (1)

Braxin

1039

114

54

84

120

-

Vối (2)

Côte d’voire

471

45

11

28

33

-

Ghi chú: (1) 1904 hố/ha. 3-4 thân/hố, lượng cắt sau 7 năm.

               (2) 1333 cây/ha. 4 thân/cây, lượng lấy đi 5 năm.

                           Nguồn: International Fertilizer Industy Association, 1992.

Đối với cà phê kiến thiết cơ bản (KTCB - chưa cho thu hoạch trái) thì lượng dinh dưỡng cây cần sẽ giúp nuôi thân, cành, lá và rễ. Năm 1-2 tuổi là giai đoạn KTCB quan trọng. Cuối năm thứ 2 và sang năm thứ 3, cây bói quả và bắt đầu chuyển sang giai đoạn kinh doanh. Nhu cầu dinh dưỡng cần thiết trong các năm đầu không đáng kể, tăng lên năm thứ 2 và tăng cao ở năm thứ 3. 

Nhu cầu dinh dưỡng của cây Cà phê KTCB.

Dinh dưỡng

(g/cây)

Tuổi cây

1 năm tuổi

2 năm tuổi

3 năm tuổi

N

1,29

28,27

80,45

P205

0,11

3,67

9,38

K20

1,43

20,85

85,45

Ca0

0,63

22,80

64,65

Mg0

0,32

2,16

22,23

Lượng chất khô

76

2.665,0

6.103,0

                                     Nguồn: J. G. De Geus.

Tổng lượng dinh dưỡng cây lấy đi (bao gồm quả và thân lá) là cơ sở để xác định tổng lượng bón. Tuy nhiên, trong một năm, cây cà phê trải qua nhiều giai đoạn sinh trưởng, phát triển.

Nghiên cứu về nhu cầu của từng thời kỳ là cơ sở để xác định các thời kỳ bón và lượng bón.

Đối với cây cà phê kinh doanh, trong một năm có 4 giai đoạn sinh trưởng, phát triển, với mỗi giai đoạn, cây sử dụng một lượng dinh dưỡng khác nhau như sau:

Động thái sử dụng dinh dưỡng của cây cà phê qua các thời kỳ trong 1 năm.

Thời kỳ sinh trưởng phát triển

% tổng số cây hút

N

P205

K20

Nghỉ sinh trưởng

20

12

19

Tiền nở hoa và nở hoa

34

42

25

Quả phát triển

26

32

31

Quả chín và thu hoạch

20

14

25

                                Nguồn: E. Malavolta, 1991

 

II.    KHẢ NĂNG CUNG CẤP DINH DƯỠNG CỦA ĐẤT:

Ở nước ta, cây cà phê được trồng trên đất nâu đỏ, nâu vàng trên bazan, đỏ vàng trên phiến sét, đất xám trên granite, trong đó đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan là chủ yếu. Đất trồng cà phê thường là đất có địa hình cao, dốc, một phần lớn diện tích là đất mới khai phá. Tuy nhiên, trong thực tế qua quá trình khai thác năng suất cao cùng tác động của yếu tố khí hậu nhiệt đới gió mùa như mưa lớn gây rửa trôi, xói mòn…đã làm cho đất có những biến đổi so với đất tự nhiên, độ phì suy kiệt, đất thoái hoá trở nên quá xấu và thậm chí không canh tác tiếp tục được.

Một số kết quả nghiên cứu nhiều năm đã cho thấy, ở đất trồng có độ dốc 5-8%, lượng mưa 1.905mm/năm đối với rừng tái sinh, lượng đất rửa trôi là 12,4 tấn/năm. Ở vườn cà phê 2 năm tuổi, lượng đất rửa trôi là 69,2 tấn/ha/năm. Còn đối với vườn cà phê 18 năm tuổi thì lượng đất bị rửa trôi là 14,4 tấn/ha/năm. Các số liệu tính toán trên cơ sở thống kê chỉ ra trung bình 1 năm, 1 hecta đất bị mất đi 171kg N, 19kg P205, 337,5kg K20, và 1.125kg chất hữu cơ.

Như vậy, thâm canh cà phê cần có chế độ bón phân hợp lý và biện pháp kỹ thuật tổng hợp để vừa đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao, vừa duy trì và nâng cao độ phì nhiêu đất. Đây cũng chính là mục tiêu của nền nông nghiệp bền vững.

Lưu ý là đất trồng cà phê ở nước ta có khả năng cố định phân bón rất mạnh, đặc biệt là lân và kali. Đối với lân, do đất trồng cà phê có nhiều sắt, nhôm di động do đó phân lân bón vào sẽ bị sắt, nhôm di động phản ứng và tạo thành các chất khó tan, cây không sử dụng được. Tình trạng khô hạn làm cho khả năng giải phóng lân bị hạn chế. Trong mùa mưa, từ tháng 5-10 do lượng mưa nhiều, đất ẩm, kèm nhiệt độ cao, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất cao hơn trong mùa khô. Động thái lân dễ tiêu trong đất trồng cà phê ảnh hưởng nhiều bởi độ ẩm đất, nhiệt độ không khí và chất hữu cơ.

Đối với kali, sự cố định trong đất chủ yếu nhờ ái lực của các keo sét, do trên đất trồng cà phê thường chua nên có thể bón vôi để tăng lượng kali giải phóng cung cấp cho cây.

III. HIỆU LỰC CỦA PHÂN BÓN:

Hiệu lực của phân bón phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khí hậu, thổ nhưỡng, đặc điểm của cây trồng, kỹ thuật bón phân … Đối với vùng nhiệt đới, phân bón thường bị thất thoát nhiều, phần cây sử dụng được thấp hơn nhiều so với phần thất thoát. 

1.      Kết quả nghiên cứu hiệu lực phân bón cho cà phê ở Việt Nam:


Cho tới nay, ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phân bón cho cây cà phê cho thấy hiệu lực của phân bón đối với cây cà phê còn thấp, hệ số sử dụng phân bón (phần cây sử dụng được so với lượng phân bón vào) thấp.
Đối với phân đạm, ở mức bón từ 150kg N tới 250kg N/ha, hệ số sử dụng phân đạm là 37% (không bón phân hữu cơ) và 51-62% (có bón phân hữu cơ). Cũng với mức bón 150-250kg N/ha, hiệu suất của phân đạm khá thấp (mỗi kilogam N bón vào cho 30,1kg đến 62,21kg quả).
Đối với phân lân, ở mức bón từ 100kg-200kg P205/ha, hệ số sử dụng phân lân từ 15,13-23,86%, mỗi kilogam P205 bón vào thu được 1,75-2,3kg quả (không bón phân hữu cơ) và 16-23,1kg quả (nếu có bón phân hữu cơ).

IV.   XÁC ĐỊNH CHẾ ĐỘ BÓN PHÂN CHO CÂY CÀ PHÊ:

Chế độ bón phân được xác định bởi lượng bón, dạng bón, thời kỳ bón, phương pháp bón và mức đầu tư phân bón để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

Quá trình sinhtrưởng, phát triển của cây cà phê được chia ra làm 4 giai đoạn chính: Giai đoạn trong bầu, giai đoạn kiến thiết cơ bản, giai đoạn kinh doanh, giai đoạn suy tàn và đốn hồi phục:

-    Giai đoạn trong bầu (trong vườn ươm) kéo dài 6-8 tháng tính từ khi gieo hạt.

-    Giai đoạn kiến thiết cơ bản xác định từ khi trồng tới hết hai năm tuổi (vì hiện tại đa số ươm cà phê trong bầu, nên sau trồng hai năm đã có hoa và cho thu hoạch). Cà phê kiến thiết cơ bản cần phân bón để tạo sự sinh trưởng của thân, cành cơ bản, lá và rễ.

-    Ở Việt Nam, giai đoạn kinh doanh của cà phê kéo dài từ năm thứ ba (bắt đầu bói trái) tới 18-20 năm (trong điều kiện canh tác hiện tại, không trồng cây che bóng, khai thác sớm và thâm canh cao). Đây là thời kỳ cây cà phê sung sức và cho sản lượng cao nhất. Giai đoạn này phân bón cần cho cả sinh trưởng và cho sản lượng quả, trong đó phân bón để tạo quả và nuôi quả là chủ yếu. Do sản lượng quả cao, vì vậy lượng phân phải cao mới đáp ứng đủ nhu cầu.

-    Giai đoạn hồi phục bắt đầu khoảng năm thứ 18 trở đi (cá biệt có những vườn 25,30 năm). Giai đoạn này, cà phê đã suy thoái, năng suất, chất lượng giảm, chúng ta cần đốn đau để bỏ nhiều cành hoặc đốn sát gốc để tạo thân mới. Giai đoạn này, phân bón cần thiết cho cả sinh trưởng và sản lượng, song do sản lượng thấp nên lượng phân cần bón cũng thấp hơn.

1.      Bón phân cho cà phê trong vườn ươm:

a)      Gieo hạt:

Chuẩn bị bầu đất: Để làm số bầu đủ trồng trên diện tích 1 ha cà phê (1.100-1.400 cây) cần 1,8-2 tấn đất lớp mặt tốt + 100-120kg Phân Gà Xử Lý HUMIX.

Trộn đều đất đã được nghiền nhỏ và phân, sau đó cho vào bịch nylon cỡ 10-20cm (1,8-2kg/bịch) có cắt lỗ phía gần đáy để thoát nước, thông khí.

b)      Chămsóc: Bón thúc định kỳ 1 tháng/lần, bắt đầu khi cây có ba cặp lá: 20-30g phân Gà Xử Lý HUMIX/bầu, đồng thời phun Phân Bón Qua lá HUMIX (Tổng Hợp) 2lần/tháng, nồng độ 1/200 (pha 40ml/8 lít nước). Ngưng tứơi và phun phân 15 ngày trước khi đem trồng.

2.      Bón lót khi trồng:

Cây cà phê cần đất tơi xốp và nhiều hữu cơ cho sự phát triển thuận lợi của bộ rễ và hút dinh dưỡng sau này, do vậy cần phải đào hố (bồn) lớn và bón phân hữu cơ, vôi và lân ngay từ đầu. Lượng Phân Gà Xử Lý HUMIX hoặc Phân Vi Sinh HUMIX thích hợp là 0,5-1kg/hố. Trộn đều phân vào lớp đất của hố trồng và tưới ẩm, chuẩn bị từ 1-2 ngày trước khi trồng. Sau khi trồng, dùng cỏ khô, lá cây hoặc tàn dư thực vật tủ gốc lại hoặc làm giàn che mát để cho bộ rễ non phát triển tránh mưa lớn làm xói gốc…

3.      Bón phân cho cà phê Kiến thiết cơ bản (KTCB):

a)      Cây cà phê thời kỳ KTCB rất cần đạm và lân. Đạm cần thiết cho sự phát triển của thân, lá và phân cành mới. Lân giúp bộ rễ phát triển mạnh, thúc đẩy sự hình thành cành gỗ, tạo cho cây cứng cáp và có nhiều cành cơ bản. Kali cần thiết để duy trì sự hoạt động bình thường của cây, tăng cường khả năng sử dụng đạm và lân. Ngoài ra cà phê KTCB còn cần các nguyên tố trung tố trung và vi lượng khác, đặc biệt là kẽm và bo. Hiện tại, các nguyên tố thường thiếu trên diện rộng ở cà phê KTCB là kẽm, magiê, thiếu phổ biến ở một số vùng thiếu canxi, lưu huỳnh và bo. Các nguyên tố như đồng, mangan, sắt, molypđen cũng có triệu chứng thiếu ở một số vườn KTCB.

b)      Dạng phân bón và định mức: Dùng Phân Hữu Cơ Sinh học HUMIX Chuyên dùng Cho Cây Cà phê: 5-6kg/cây. Lượng phân này được chia ra bón 2-3 lần/năm.

c)       Thời kỳ bón: Đầu mùa mưa và cuối mùa mưa.

d)      Phương pháp bón: Cà phê KTCB còn ít rễ phụ, bộ rễ chưa ăn rộng và sâu, do vậy không nên bón rải phân quá rộng hoặc vùi quá sâu. Tốt nhất là bón phân vào rãnh theo vành tán, xới đất hoặc đào rãnh sâu 5-10 cm xung quanh bồn, khu vực tập trung rễ, rải phân, lấp đất, tưới nước cho thấm phân đều.

 

4.      Bón phân cho cây cà phê kinh doanh và cà phê hồi phục:

a)      Dạng phân bón và định mức:Dùng Phân Hữu Cơ Sinh học HUMIX Chuyên dùng Cho Cây Cà phê: 8 -10kg/cây. Lượng phân này được chia ra bón 3-4lần/năm.

b)      Thời kỳ bón: Cà phê kinh doanh có hai mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa. Mùa khô, cà phê trong giai đoạn nghỉ và tượng hoa, nở hoa. Mùa mưa là giai đoạn phát triển mạnh của cành, lá và quả. Việc bón phân cho hai mùa cũng có những điểm khác nhau:

-    Bón phân trong mùa khô: Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 tới cuối tháng 3 năm sau. Đây là thời kỳ tượng hoa và nở hoa, đậu quả, hình thành vỏ của nhân. Các giai đoạn này nhu cầu dinh dưỡng của cây không cao bằng các giai đoạn khác, tuy nhiên việc bón phân cho cà phê rất quan trọng vì nó quyết định số hoa nở, tỷ lệ đậu quả và kích thước của nhân cà phê sau này. Bón lần 1 (khoảng tháng 12-1), bón lần 2 (khoảng giữa tháng 3).

-    Bón phân trong mùa mưa (Chia ra hai lầnbón): Trong mùa mưa, cây cà phê cần một lượng lớn dinh dưỡng để nuôi quả và phát triển cành dự trữ cho năm sau. Nếu bón không đủ và cân đối, tỷ lệ rụng quả sẽ cao, quả không lớn, nhân không đầy, năng suất thấp và chất lượng giảm.

c)       Phương pháp bón: Đối với cà phê kinh doanh, dù trong mùa mưa hay mùa khô, bón phân xong cần phải vùi lấp lại để giảm lượng thất thoát do rửa trôi, bay hơi. Kết hợp xả bồn, mở rộng bồn, tạo thành rãnh rộng 20-30 cm, sâu 5-7cm theo đường chiếu của vành tán, rải phân đều theo rãnh này rồi vùi lấp phân lại.

d)      Chú ý: Sử dụng Phân Bón qua lá HUMIX (dạng lỏng, chuyên cho cây Cà phê): Nồng độ 1/200 (40ml/ bình 8 lít nước). Phun bổ sung xen kẻ giữa các kỳ bón phân bột, tập trung vào giai đoạn nuôi trái, sau khi thu hoạch, phun cách nhau 7-10 ngày/lần./.

 

 

 

 

 

 

 

 

In trang này
Trở về trang trước Trở lên đầu trang
 
  Bản quyền thuộc Công Ty TNHH Hữu Cơ
Design by 2000-2003  Webmaster