w w w.h u m i x v n. c o m  - Nhịp cầu giữa nhà nông và các nhà khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp - w w w.h u m i x v n. c o m
English  
 

Kỹ thuật canh tác


Kỹ thuật trồng Lúa Nam thơm

 

 

Nhóm biên tập Website - Công ty TNHH Hữu Cơ.
Biên tập từ Tài liệu của TT Khuyến Nông An Giang.

Giống Lúa Nam thơm là giống lúa mùa sớm, chịu ảnh hưởng quang kỳ, hạt gạo dài trong suốt và có mùi thơm. Giống được trồng nhiều năm ở Đồng bằng Sông Cửu Long, có giá trị xuất khẩu cao.

I.       ĐẶC ĐIỂM GIỐNG:
Nguồn gốc: Nhận từ Viện Lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Chiều cao biến động từ 100-150cm.
Nở bụi trung bình, hơi yếu rạ.
Nhiễm sâu đục thân, rầu nâu, bệnh đạo ôn (cháy lá).
Chịu phèn trung bình và chịu mặn tốt.
Hạt gạo trắng, không bạc bụng, thơm, dẻo.
Năng suất: vụ mùa 3-4 tấn/ha. Vụ Đông xuân đạt năng suất 3,5-4,5 tấn/ha.

II.    KỸ THUẬT CANH TÁC:
1. Làm đất:
Khác với giống thường, giống lúa thơm phải đòi hỏi những điều kiện nhất định để ổn định tính thơm và phẩm chất của giống. Bộ rễ và thân lá phát triển mạnh do đó khả năng chịu phèn khá. Đất được dọn kỹ, sạch cỏ dại, giữ mặt ruộng bằng phẳng và thoát nước tốt.
2. Thời vụ:
Vụ Đông xuân: Xuống giống trong tháng 11 và chấm dứt vào15/12 (không nên xuống giống chậm hơn), xuống giống càng muộn thì thời gian sinh trưởng càng dài và năng suất càng giảm.
Vụ mùa: Đối với những vùng sản xuất lúa chỉ dựa vào nước mưa nên gieo mạ từ tháng 6, cấy vào đầu tháng 8 hoặc sạ theo hàng vào tháng 7, lúa trổ trong tháng 10 và thu hoạch trong tháng 11.
3. Giống và mật độ gieo cấy:
Giống phải thuần, sạch, đúng giống, đạt tiêu chuẩn giống xác
nhận hay nguyên chủng.
Vụ Đông xuân: Sạ theo hàng, lượng giống cần sử dụng 120kg/ha, thời gian sinh trưởng khoảng 95 ngày.
 Vụ mùa: Giống chịu ảnh hưởng quang kỳ, chỉ trổ bông vào thời gian nhất định trong năm, dù thời gian cấy khác nhau.
Lượng giống: cần 60-80 kg/ha đối với lúa cấy hoặc 110-120kg/ha đối với lúa sạ.
Tuổi mạ cấy: 25-30 ngày. Nên cấy khoảng cách 20x20cm, thẳng hàng để cây lúa phát triển tốt và dễ chăm sóc, cấy 3-4 tép/ bụi.
4. Phân bón: Tùy theo chân ruộng mà có thể bón phân phù hợp với sự phát triển của cây lúa,
đặc biệt chú ý là phân chuồng, phân hữu cơ, phân vi lượng, phân vi sinh rất tốt cho tính thơm của gạo. Phân hóa học cần cân đối giữa đạm, lân, kali.
Vụ Đông xuân bón phân như sau: 7-10 ngày = 50kg DAP + 50kg Ure; 18-20 ngày = 50 kg urê + 50kg DAP; 40-45 ngày = 50kg urê + 50kg kali (lúa có đòng dài 5mm).
Vụ mùa:
Ø       Đối với lúa sạ theo hàng thì bón phân như vụ Đông Xuân.
Ø       Đối với lúa cấy thì bón phân cho nương mạ: NPK (20-20-15) = 100kg/ha, hoặc super lân 100kg và 40kg urê/ha vào 7 ngày sau khi gieo. Nếu thấy mạ xấu có thể bón thêm một ít đạm vào 10 ngày trước khi nhổ cấy.
Ø       Liều lượng bón cho 1 ha ruộng lúa cấy như sau: Phân chuồng = 8 -10 tấn/ha, phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX =1-2 tấn/ha; Phân hóa học thì dùng Super lân hay Lân Văn điển = 250- 300kg, Ure = 100-120kg, kali = 50kg hoặc sử dụng phân NPK (20-20-15) = 300kg/ha.
Ø       Cách bón:
Bón lót: 100% phân chuồng + 1/3 ure + ½ kali + 100% lân.
Thúc lần 1: (25-30 ngày sau khi cấy) 1/3 lượng urê.
Thúc lần 2: (Vào lúc lúa có tim đèn) 1/3 urê + ½ kali. Hoặc:
Bón lót: 100% phân chuồng + 100kg NPK (20-20-15).
Thúc lần 1: (25-30 ngày sau khi cấy) 100kg NPK (20-20-15).
Thúc lần 2: (Vào lúc lúa có tim đèn) 100kg NPK (20-20-15).
5. Phòng trừ sâu, bệnh: Là giống dễ nhiễm, nhiều nhất là rầy nâu và bệnh cháy lá nên phải
thường xuyên kiểm tra đồng ruộng nhằm phòng trị kịp thời.
Rầy nâu: Có thể gây hại bất kỳ giai đoạn nào của cây, khi phát hiện quá ngưỡng, sử dụng các loại thuốc như Trebon, Aplaud, Bassa…theo liều lượng hướng dẫn.
Bệnh cháy lá (đạo ôn): Có thể phòng bằng cách phun Rabcide (hoặc các loại thuốc khác hiện có bán trên thị trường) 2 lần lúc 4-5 ngày trước trổ và sau trổ đều theo hướng dẫn. Nếu phát hiện vết bệnh có thể dùng Fujione hoặc Fuan để trị.
Ngoài các đối tượng trên cần theo dõi phòng trị các loại sâu, bệnh, chuột hại như các giống lúa cao sản hiện đang sản xuất.
Tóm lại: Lúa Nam Thơm dễ nhiễm nhiều sâu bệnh, cho nên trong canh tác cần đặt chỉ tiêu
năng suất vừa phải, hạn chế thâm canh cao.
6. Khử lẫn: Để đảm bảo chất lượng gạo đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, có giá trị cao; ruộng phải
được khử lẫn bằng cách:
Ø         Chọn giống có độ thuần rặt cao, đạt tiêu chuẩn giống xác nhận. Đối với ruộng nhân giống, nên dùng giống lúa nguyên chủng đã được các cơ quan Viện, Trường hoặc Trung Tâm Giống công nhận.
Ø         Nhổ bỏ cây khác giống vào các thời kỳ: Mạ, đâm chồi đến làm đòng, thời kỳ trổ bông đến chín trước khi thu hoạch.
Ø         Làm sạch cỏ nhất là cỏ gạo (cỏ gạo sẽ làm giảm phẩm cấp của lúa gạo sau này).
7. Thu hoạch: Trước khi thu hoạch 10 ngày nên rút khô nước, thu hoạch khi lúa vừa chín tới
(85-90%), tiếp tục phơi khi ẩm độ đạt 14-15% để lưu giữ mùi thơm, tránh để chín rục, mùi thơm và phẩm chất gạo sẽ bị giảm.
Ruộng nhân giống phải được thu hoạch riêng bảo đảm yêu cầu về chất lượng giống xác nhận trong sản xuất như chăm sóc, khử lẫn, suốt lúa, phơi sấy, bao bì … nhằm giữ ổn định chất lượng hàng hóa xuất khẩu.

In trang này
Trở về trang trước Trở lên đầu trang
 
  Bản quyền thuộc Công Ty TNHH Hữu Cơ
Design by 2000-2003  Webmaster